“Những chậu vạn thọ” – Truyện ngắn của Hải Bằng

Đối với nhiều người, Tết là dịp sum vầy, đoàn tụ. Những ngày giáp Tết, nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, trang hoàng rực rỡ; buổi sáng sớm thường mở nhạc xuân rộn ràng qua chiếc dàn âm li cũ mà cả năm chỉ dùng đến đôi ba lần. Người lớn thì háo hức ra chợ mua sắm quần áo mới, sắm sửa đủ thứ lễ vật, trẻ con thì mong mỏi được mặc áo mới, nhận phong bao lì xì đỏ thắm. Buổi tối, khi công việc đã tạm gác lại, cả nhà thường quây quần bên mâm cơm ấm cúng, có khi còn cùng nhau chơi những trò chơi dân gian, hoặc rủ nhau đi ngắm chợ hoa tấp nập. Đêm giao thừa vì thế mà thêm phần trọn vẹn, rộn rã tiếng cười.

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Thế nhưng, với gia đình thằng Bình, Tết lại mang một dáng vẻ khác. Tết của nhà nó không phải là những ngày thong dong hay những buổi rong chơi, mà là chuỗi ngày vất vả, lấm lem bùn đất, tay chân tê cứng vì sương gió. Trước Tết, nhà nó gần như chẳng mấy khi có một bữa cơm tử tế; ăn uống chỉ qua loa, miễn no bụng để còn tiếp tục việc đồng áng. Cha mẹ nó và cả hai anh em suốt ngày cúi mặt, bận rộn với những chậu vạn thọ còn dở dang. Cả căn nhà nhỏ chẳng mấy khi được quét tước, bàn ghế cũng đầy bụi đất, bởi ai nấy đều bận rộn với vườn hoa. Đêm đến, khi cả xóm đã chìm trong ánh đèn vàng yên ấm, gia đình nó vẫn còn cặm cụi dưới ánh đèn pha đội đầu, tỉ mẩn nhặt lá, tỉa cành, chăm từng gốc hoa.

Nhà Bình đã có thâm niên hơn mười năm trong nghề trồng vạn thọ bán Tết. Cha mẹ nó từ hồi còn trẻ đã gắn bó với nghề, dẫu chẳng thể đổi đời nhưng cũng đủ để nuôi hai anh em khôn lớn. Bình từ nhỏ đã quen với cảnh Tết đến là ngày làm việc cật lực nhất trong năm. Nó hiểu rằng, những chậu hoa kia chính là “nồi cơm” của cả nhà, là số tiền để cha mẹ lo cho hai anh em đóng học phí, sắm sửa manh áo mới. Thế nên, đối với Bình, Tết không chỉ là niềm vui sum vầy, mà còn là thử thách lớn nhất của cả gia đình – một cuộc chạy đua bền bỉ giữa nắng gió, mưa sương, và cả những nhọc nhằn đời thường.

Tác giả Đoàn Hải Bằng 

Gia đình Bình sống ở một vùng quê nghèo. Căn nhà tôn cấp bốn lụp xụp là nơi cả nhà bốn người quây quần, chẳng có phòng ngủ riêng, đêm xuống chỉ trải chiếu, nằm san sát bên nhau. Quanh năm, nguồn sống chính của họ là mảnh rẫy nhỏ – mà đất cũng không phải của mình, chỉ là đất thuê. Cha mẹ Bình đều là những người nặng gánh mưu sinh. Ngoài việc trồng trọt, cha nó, anh Đoàn, còn chạy xe ba gác thuê, ai nhờ gì cũng nhận. Có khi nguyên cả ngày ông phải rong ruổi ngoài đường, vội vã chở hàng từ chợ này sang chợ khác, đến mức quên cả bữa cơm trưa. Còn mẹ nó, chị Viên, suốt ngày cặm cụi với vườn rẫy, tay chân lấm lem đất cát, xong việc lại tất bật cơm nước, chợ búa.

Hai anh em Bình và An tuy còn nhỏ nhưng rất ngoan. Bình, mới mười ba tuổi, học giỏi lại biết phụ giúp cha mẹ những việc lặt vặt trong vườn. Còn thằng An, lanh lợi, hay nói cười, lúc nào cũng chạy lăng xăng phụ mẹ nhổ cỏ, xách nước. Học hành vốn là chuyện quan trọng, nhưng cả hai vẫn luôn ý thức phụ giúp gia đình khi có thể.

Dẫu cuộc sống vất vả là vậy, chưa bao giờ trong nhà vang lên lời than trách. Ai cũng tự nhủ phải cố gắng, phải chăm chỉ, bởi chỉ có vậy mới mong giữ được cái ăn, cái học cho hai đứa nhỏ. Trong gian khó, tình thương của họ dành cho nhau càng thêm gắn bó, như một ngọn lửa âm thầm giữ ấm giữa những ngày lam lũ chốn thôn quê.

“Thưa cha mẹ, con mới đi học về!” – Bình cất tiếng, vừa tháo đôi giày bụi đất nơi thềm, cái ba lô cũ vẫn còn đeo trên vai. Trong gian bếp nhỏ, mâm cơm đã dọn sẵn, mẹ nó gọi vọng ra:

– Vô thay đồ rồi ra ăn cơm nè con!

– Dạ! – Bình đáp, nhanh nhảu chạy vào buồng. Nó khoác bộ đồ thể thao cũ kỹ, từng mảng vải đã sờn, dính vài vệt mủ chuối loang lổ. Bao lần mẹ bảo bỏ đi, hứa mua cho nó cái mới, nhưng lần nào nó cũng lắc đầu, khăng khăng: “Con thích bộ này, mẹ đừng mua tốn tiền.”

Nó chạy vội ra bàn, mắt sáng lên khi thấy mâm cơm: tô canh bí đỏ nấu cùng dưa leo và nấm rơm trong vườn, bên cạnh là chảo thịt kho quẹt thơm nức. Bụng đói cồn cào sau mấy giờ học dài, Bình nuốt nước miếng “ực” một cái rồi nhanh chóng cầm chén, xúc cơm ăn ngon lành.

Vừa ăn, cha nó – anh Đoàn – vừa gợi chuyện:

– Năm rồi mình trồng năm trăm chậu vạn thọ, bán cũng tàm tạm. Anh tính năm nay có nên làm nghìn chậu không, để kiếm thêm chút, nhà mình ăn Tết lớn hơn? Nhưng mà nghĩ lại thấy cực quá!

Chị Viên vừa chan thêm canh cho con, vừa thở nhẹ:

– Em cũng nghĩ vậy, thôi thì trồng vừa thôi, miễn có đủ lo cho tụi nhỏ là được. Trồng nhiều, mấy đứa phải phụ cực, em cũng xót lắm.

An – thằng út lanh lợi – lập tức ngẩng mặt, lí lắc nói to:

– Cha mẹ trồng nhiều nhiều đi ạ! Con muốn ăn Tết lớn, Tết lớn cơ! Con xung phong phụ cha mẹ!

Bình liếc nhìn em trai, không chịu kém cạnh, hăng hái tiếp lời:

– Cha mẹ đừng lo, tụi con quen rồi. Một nghìn chậu cũng được, tụi con phụ được hết! Trồng nhiều mới ngầu ạ!

Anh Đoàn bật cười, gõ đũa lên mâm cơm:

– Một nghìn chậu, là gấp đôi năm trăm đó con à. “Ngầu” cái gì mà ngầu!

Hai anh em liếc nhau ra hiệu, rồi bất ngờ đồng thanh hét to:

– Vì chúng ta là… gia đình F4!

Tiếng cười vang lên giòn giã trong căn bếp nhỏ. Cha mẹ nhìn hai đứa, trong mắt vừa thương vừa tự hào. Ngoài kia, nắng trưa xuyên qua kẽ vách, rọi vào mâm cơm đơn sơ nhưng chan chứa niềm vui.

Năm nay, gia đình Bình liều một phen, quyết định trồng tận một nghìn chậu vạn thọ. Con số ấy vừa nghe qua đã khiến ai cũng thoáng lo lắng, bởi nó đồng nghĩa với việc công việc sẽ gấp đôi, vất vả gấp bội so với mọi năm. Để có đủ vốn mua hạt giống, phân tro và chậu nhựa, cha mẹ Bình còn phải chạy vạy khắp nơi, vay mượn ít nhiều từ họ hàng, ai giúp được bao nhiêu thì giúp. Nếu năm ngoái, sân nhà chỉ ngổn ngang vài đống đất, vài chục bao phân, thì nay, từng góc sân, từng khoảng trống trong vườn đều chật ních: bao phân sơ dừa xếp cao, bao tro trấu ngả nghiêng, từng chồng chậu nhựa đen bóng chất thành núi, còn túi hạt giống thì treo lủng lẳng ở góc bếp như kho báu chờ gieo.

Từ khi bắt tay vào việc, căn nhà nhỏ của họ gần như biến thành một công xưởng. Sau Tết Trung thu là thời điểm bắt đầu giai đoạn ủ phân – công việc mở đầu cho cả vụ hoa mới. Những bao phân chuồng khô, phân cá, tro trấu được trộn đều rồi ủ lại cho hoai, mùi ngai ngái lan khắp sân, bám cả vào quần áo, mái tóc, vào từng vạt áo lao động sờn cũ. Đến khoảng ngày hai mươi lăm tháng Mười âm lịch, khi tiết trời đã chớm se lạnh, cả nhà bắt đầu ươm hạt.

Mẹ Bình – chị Viên – ngồi lọ mọ bên hiên nhà, bên cạnh là đống lá chuối khô, mấy bao đất tơi và thau tro trấu. Chị cắt lá chuối thành từng miếng nhỏ, khéo léo cuốn lại thành bầu đất, rồi xúc từng nhúm đất trộn phân cho vào, cẩn thận đặt hạt vạn thọ lên trên, vùi thêm lớp tro mịn. Mùi đất ẩm, mùi lá chuối hăng hắc quyện với khói bếp buổi chiều gợi nên hương vị rất đỗi quen thuộc của làng quê.

Những bầu đất nhỏ được xếp ngay ngắn thành hàng, như những chiếc nôi tí hon ủ ấm cho mầm sống. Từ ngày ươm, mẹ đều dậy sớm ra xem, vuốt nhẹ từng bầu, mừng thầm khi thấy hạt đã kịp nảy mầm xanh non. Chừng mười lăm ngày sau, khi cây con đã cứng cáp, cả nhà lại hối hả chuẩn bị bội đất để trồng – từng luống đất được xới tơi, chia chậu, vun tròn, sắp đều tăm tắp ngoài sân.

Cha Bình – anh Đoàn – ngày thường vốn đã vất vả với nghề ba gác, nay về nhà lại cặm cụi xúc đất, trộn phân, đôi vai gầy guộc cứ oằn xuống dưới sức nặng của từng xẻng đất ẩm. Mồ hôi lăn dài trên gương mặt rám nắng, chảy qua vầng trán đã hằn nhiều nếp nhăn vì nắng gió. Còn mẹ thì cứ tỉ mẩn từng chậu, đôi bàn tay chai sần thoăn thoắt, đặt cây con xuống, vun đất lại, như thể gửi gắm niềm hy vọng vào từng mầm hoa nhỏ.

Chiều nào đi học về, Bình và An cũng vội vã chạy ù ra sân, chẳng buồn thay áo quần mới. Cặp sách chỉ kịp đặt lên bàn là hai anh em đã xắn tay áo, giành nhau phần việc. Bình, mười ba tuổi, khỏe mạnh hơn nên lo bưng vác chậu, hì hục khiêng từng chồng nhựa nặng trịch. Còn thằng An thì lanh lợi, nhanh nhẹn, cứ thoăn thoắt xúc đất, lấm lem cả mặt mũi, tay chân nhưng miệng thì ríu rít cười nói. Có lúc hai anh em còn bày trò, đua xem ai xúc được nhiều chậu hơn, đứa thua phải hát một bài hoặc chạy vòng quanh sân, khiến cả cha mẹ cũng bật cười xua tan cái mệt.

Dù bận bịu là thế, chuyện học hành của hai đứa chưa bao giờ bị lơ là. Hễ làm xong việc phụ giúp cha mẹ, dù trời đã sẩm tối, cả hai lại tranh thủ rửa tay chân qua loa, ngồi vào bàn học nhỏ trong góc nhà. Ánh đèn vàng yếu ớt hắt xuống những trang vở đã nhàu, tiếng bút sột soạt xen lẫn tiếng dế kêu ngoài vườn. Có hôm mệt quá, An gục đầu xuống bàn, Bình phải khẽ lay em dậy: “Ráng chút nữa đi, học xong rồi ngủ, mai đỡ quên bài.” Nghe lời anh, thằng nhỏ dụi mắt, nắn nót từng con chữ, cố giữ cho đầu không gục xuống. Cả hai vẫn kiên trì như thế, tối nào cũng học, dù người mỏi nhừ sau một ngày dài, trong lòng vẫn ấm áp vì biết mình đang cố gắng vì gia đình, vì những chậu vạn thọ đang lớn lên ngoài sân.

Ngày nối ngày, từ sáng tinh mơ khi tiếng gà còn gáy râm ran cho đến tận chiều muộn lúc ánh hoàng hôn đỏ quạch phủ xuống vườn, cả gia đình bốn người vẫn miệt mài. Tiếng xẻng xúc đất rào rào, tiếng chậu nhựa khua lách cách, xen lẫn tiếng trò chuyện rộn ràng. Dẫu đôi lúc mệt rã rời, lưng còng xuống, tay rát bỏng vì chai, nhưng chẳng ai kêu ca. Bởi trong lòng mỗi người đều đang nuôi dưỡng một niềm vui, một sự háo hức âm thầm: chỉ mong từng chậu hoa sớm nảy mầm, từng nụ vạn thọ sớm nhú ra, vàng rực cả một góc sân, rồi theo chân họ ra chợ Tết, đổi lấy tiền lo toan cái Tết sum vầy cho cả nhà.

Trong nhọc nhằn lam lũ ấy, có thứ ánh sáng không bao giờ tắt – ánh sáng của sự yêu thương, của niềm tin giản dị rằng chỉ cần cùng nhau, vất vả đến mấy cũng trở thành niềm vui.

Rồi những chậu vạn thọ cũng dần lớn lên, lá bắt đầu xanh rì, thân cây vươn thẳng. Đến khoảng cuối tháng Mười Một âm lịch, cả nhà lại bước vào giai đoạn ngắt ngọn – một công đoạn đòi hỏi sự cẩn thận và tỉ mỉ hơn bao giờ hết. Mỗi cây đều phải được bấm ngọn đúng thời điểm để chồi hoa mọc ra đều và đẹp. Cha cẩn thận dùng hai ngón tay kẹp lấy đọt non, ngắt một cái thật dứt khoát, trong khi mẹ theo sau gom những ngọn non bỏ vào rổ, giọng nhắc khẽ: “Cây này bấm nhẹ thôi, non quá là hư hết bông đó nghe.” Hai đứa nhỏ cũng phụ, dù tay còn vụng về nhưng ánh mắt thì đầy thích thú.

Đến rằm tháng Chạp, chồi bông đã to bằng ngón tay cái – đó cũng là lúc người trồng có thể đoán được hoa sẽ nở sớm hay muộn. Làm lâu năm trong nghề, cha mẹ Bình nhìn qua là biết: cây nào chồi to, bông sẽ nở sớm thì phải tưới thêm nhiều nước cho kìm lại; cây nào còn nhỏ, e nở trễ thì tạm ngưng tưới vài hôm để cây héo nhẹ, rồi mới cho nước lại. Mọi việc đều phải tính từng ngày, từng giờ, chỉ cần sai một chút là hoa sẽ nở lệch Tết, coi như công sức cả mùa tan theo mây gió.

Đêm xuống, khi cả xóm đã tắt đèn đi ngủ, nhà Bình vẫn lục đục ngoài sân. Một chiếc đèn pin cũ được buộc vào cây gậy tre, ánh sáng vàng vọt quét qua từng chậu bông. Cha và con lặng lẽ lom khom, mắt dán chặt xuống từng kẽ lá, nhặt bỏ những con ốc sên đang bò lặng lẽ, những con sâu nhỏ xíu đang gặm lá non. Thằng An có lần bắt được con sâu to bằng ngón tay, liền hét toáng lên làm cả nhà cười vang trong đêm yên tĩnh.

Cực nhọc nhất vẫn là công đoạn tưới phân cá. Thứ phân này được ủ từ tôm cá, cua đồng đã chết, để lâu ngày nên bốc lên mùi nồng nặc khó chịu. Mỗi lần mở nắp thùng, mùi xộc ra, hàng xóm đi ngang cũng vội che mũi, làu bàu: “Trời đất ơi, thúi quá trời thúi!”. Thế mà với nhà Bình, cái mùi ấy lại quen thuộc đến mức chẳng ai thấy khó chịu nữa. Cha nó, anh Đoàn, thọc hẳn bàn tay vào xô phân, quậy đều lên cho tan, rồi pha thêm nước. Mỗi ca phân được múc lên, tưới xuống gốc cây, là cả một sự nâng niu.

Đối với họ, những chậu vạn thọ không chỉ là hoa, mà như những đứa con nhỏ đang lớn từng ngày. Họ cho cây uống thứ nước hôi nồng ấy mà lòng vui như thể đang bón cho con mình món ăn bổ dưỡng. Bình và An mỗi khi cầm ca tưới, còn hay nói đùa:

– Ăn ngon vô nha, lớn lẹ lẹ nghen, cho tụi con được Tết lớn đó nghen!

Tiếng cười vang trong đêm, hòa với mùi phân cá ngai ngái, hòa với tiếng nước chảy rào rào xuống đất, tất cả trở thành một phần quen thuộc trong cuộc sống của gia đình nghèo. Vất vả, dơ bẩn là vậy, nhưng ai cũng thấy lòng ấm áp, bởi họ biết từng giọt mồ hôi, từng ca phân cá kia chính là hy vọng cho một cái Tết đủ đầy hơn.

Rồi cũng đến ngày vườn hoa bắt đầu bừng nở. Những chậu vạn thọ đồng loạt khoe sắc, trải dài thành cả một biển hoa rực rỡ, nào vàng tươi, nào cam thắm, lại xen lẫn vài chậu hai màu lạ mắt khiến cả khu vườn như khoác lên chiếc áo hội xuân rực rỡ. Ai đi ngang qua cũng không thể kìm được ánh nhìn, vừa ngẩn ngơ ngắm hoa vừa xuýt xoa khen đẹp. Mùi hương vạn thọ không nồng nàn như cúc hay hồng, mà dìu dịu, ấm áp, gợi cảm giác thân thuộc, gần gũi như hương vị của những cái Tết xưa.

Bình và An mê lắm, cứ hay nhặt những bông hoa mới rụng dưới đất lên, áp sát vào mũi rồi reo lên thích thú: “Thơm quá!”. Hai đứa còn có trò gom những cánh hoa rụng, xé nhỏ ra rồi tung lên trời, cười vang như đang thả pháo hoa rực rỡ. Niềm vui trẻ thơ hòa cùng sắc xuân làm cả khu vườn thêm sinh động.

Thế nhưng, bông càng nhiều thì nỗi lo càng lớn. Vạn thọ vốn sợ mưa, chỉ cần vài giọt nước vướng trên cánh hoa cũng đủ khiến chúng úng đen, hư hỏng. Vậy nên mỗi lần tưới, cả nhà đều cẩn thận ghé sát gốc cây mà tưới, tuyệt đối không để văng nước vào hoa. Với một nghìn chậu bông, công việc ấy chẳng hề dễ dàng. Cha xách từng thùng nước lớn, mẹ múc từng ca nhỏ, Bình và An thì chia nhau đi dọc các luống hoa, vừa múc nước vừa cúi xuống – đứng lên – cúi xuống – đứng lên, lặp đi lặp lại hàng trăm lần cho đến khi lưng mỏi, tay rát, mồ hôi chảy ướt đẫm lưng áo. Cả sân chỉ nghe tiếng nước rào rào hòa cùng tiếng xô khua lách cách. Dưới mỗi gốc vạn thọ, dòng nước được đổ xuống chậm rãi, vừa đủ thấm đất, như thể họ đang gửi gắm vào đó cả công sức và niềm hy vọng cho một cái Tết đủ đầy. Mấy năm trước, trời cứ bất ngờ đổ mưa, cả gia đình chẳng kịp che chắn, vội vàng ào ra giữa cơn mưa tầm tã, mỗi người ôm lấy vài chậu bông chạy vội vào nhà. Dù mưa xối ướt lạnh run người, nhưng trong lòng ai cũng nóng ruột, chỉ sợ vườn hoa bao ngày vun trồng vất vả bị mưa gió làm tiêu tan.

Thằng Bình và An vừa được nghỉ Tết ở trường thì cũng là lúc những chậu vạn thọ trong vườn đã đến ngày đem ra chợ bán. Thường thì khoảng ngày hai mươi tháng Chạp, người ta bắt đầu phân lô cho thuê nền để bày hoa Tết. Cha Bình tranh thủ xuống chợ sớm, chọn được một lô nhỏ ở góc gần cổng chính – chỗ vừa dễ nhìn, vừa tiện xe ra vào. Từ đó, không khí trong nhà càng thêm rộn ràng. Đến ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm, cả vườn hoa đã rực rỡ, mẹ bắt đầu lựa những chậu đẹp nhất, đều tăm tắp, xếp gọn lên xe để chở ra chợ.

Mẹ là người ra chợ sớm nhất, từ tinh mơ đã tất bật bày hoa, chỉnh lại từng chậu cho ngay ngắn, khoe sắc giữa bao hàng hoa xuân. Đây cũng là khoảng thời gian cực nhọc nhất của cả nhà: người ở chợ thì đứng bán, đón khách ra vào, nụ cười lúc nào cũng tươi dù chân đã mỏi nhừ; kẻ ở nhà lại hì hục khuân từng chậu hoa từ vườn chất lên xe ba gác cho cha chở ra chợ.

Những ngày cận Tết, cơm nhà gần như chẳng còn bữa nào, cả gia đình chủ yếu ăn tạm ngoài chợ cho nhanh. Sáng sớm mở hàng, tối mịt trời mới xong, có khi phải trải chiếu ngủ lại giữa sạp hàng để canh hoa. Trong khi khắp xóm nhà nhà rộn ràng dọn dẹp, trang hoàng đón Tết, con cái tung tăng chơi đùa, thì gia đình bốn người ấy vẫn miệt mài bên những chậu vạn thọ, coi chúng như niềm hy vọng lớn nhất.

Hai đứa nhỏ mới mười mấy tuổi, dáng người gầy nhẳng nhưng cực kì hiểu chuyện, chẳng đòi hỏi áo quần mới hay rong chơi cùng bạn bè. Thỉnh thoảng mệt quá có thoáng tủi thân, nhưng rồi vẫn ráng cười, ngoan ngoãn phụ giúp cha mẹ. Những đêm hoa chưa bán hết, cả Bình và An lại rón rén chắp tay khấn trước bàn thờ ông Địa: “Ông phù hộ cho nhà con bán hết bông, để con còn được ăn Tết, ngắm pháo bông nữa ạ.” Lời cầu nguyện trẻ thơ ngây ngô nhưng chan chứa hy vọng, làm cha mẹ nghe mà chạnh lòng thương con.

Đến sát giao thừa, hoa vẫn còn nhiều, lòng người càng thêm nóng ruột. Khách thì thường chờ nước rút mới đi mua, lúc ấy hoa đã không còn tươi đẹp như ban đầu, người bán lại cũng muốn nhanh chóng về sum họp, nên hoa thường bị bán tháo, bán rẻ. Mỗi lần phải gạt nước mắt bán đi những chậu hoa như thế, Bình thấy trong lòng buồn lắm, như thể bao công sức chăm bón cả mùa bị cuốn đi theo giá rẻ bèo. Nhưng chỉ cần hết hàng, cả nhà lại vỡ òa vui sướng, cảm giác chẳng khác gì vừa chiến thắng một trận dài đầy gian nan. Bình và An ôm chầm lấy nhau, nắm tay nhảy cẫng lên, hớn hở phụ mẹ thu dọn sạp, chuẩn bị về nhà.

Thế nhưng, điều hai đứa nhỏ khao khát nhất lúc ấy không phải là bộ đồ mới, mâm cơm thịnh soạn hay ngắm pháo hoa đêm giao thừa. Cái chúng thèm nhất chỉ là được đánh một giấc thật sâu, được ngồi ăn một bữa cơm nóng sốt, đơn giản vậy thôi. Sau bao ngày dốc sức cùng cha mẹ, cả nhà đều kiệt quệ.

Đêm ấy, khi hai anh em đã ngủ say, cha mẹ vẫn ngồi bên chiếc bàn gỗ cũ, trải tờ giấy nháp ra tính toán lại tiền bán hoa. Sau khi trừ đi chi phí phân tro, chậu nhựa, tiền thuê đất rẫy và số vốn vay họ hàng, số tiền lời còn lại không nhiều, nhưng cũng đủ để thở phào. Anh Đoàn cẩn thận gấp từng tờ tiền, chia làm mấy phần: phần trả nợ, phần gửi lại vốn cho mùa sau, phần nhỏ để lo sắm Tết và dành riêng cho hai đứa nhỏ. Chị Viên nhìn chồng, khẽ cười, giọng nhẹ như gió: “Vậy là cũng đủ rồi anh ha, Tết này mình không thiếu nợ ai nữa.” Anh chỉ gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm vui lẫn mỏi mệt.

Đêm xuống, khi đã về lại căn nhà quen thuộc, trong giấc ngủ chập chờn, Bình vẫn còn nghe văng vẳng tiếng rao, tiếng mặc cả, tiếng xôn xao ồn ã của chợ Tết vọng về như dư âm của một mùa hoa đầy mồ hôi, nước mắt mà cũng tràn ngập yêu thương.

Buổi sáng đầu tiên sau khi đã bán hết bông, đối với gia đình Bình, Tết mới thật sự bắt đầu. Cả nhà như vừa trút bỏ gánh nặng sau nhiều ngày dài vất vả. Từ sớm tinh mơ, cha đã dậy quét sân, dọn lại từng hàng chậu còn sót, gom rác, vun lại mấy gốc hoa còn tươi để trước hiên nhà. Mỗi nhát chổi quét qua là một chút bụi đất, mồ hôi của những ngày làm lụng cũng được gạt đi, nhường chỗ cho nắng xuân ấm áp tràn vào. Mẹ thì tất bật ra chợ, tay xách nách mang nào bánh mứt, dưa món, củ kiệu, rồi thịt cá để chuẩn bị cho mâm cơm ngày Tết.

Ở nhà, hai anh em Bình và An hì hục lau dọn từng góc nhà, rồi vui vẻ treo thêm mấy dây pháo giấy đỏ chói mà hôm qua cha vừa mua. Như một thói quen, năm nào gia đình cũng giữ lại vài cặp vạn thọ đẹp nhất: một số đem biếu ông bà nội ngoại, cô dì chú bác để tỏ lòng hiếu nghĩa, một cặp trưng ngay trước hiên nhà, vàng rực cả góc sân.

Không gian ngập tràn hương Tết. Mùi lá dong mới mua thoang thoảng, hòa cùng hương trầm phảng phất. Tiếng cười của lũ trẻ vang vọng trong sân, tiếng nhạc rộn ràng “xuân đã về, xuân đã về” cứ ngân nga không dứt. Ai nấy trong gia đình đều hớn hở, gương mặt sáng bừng niềm vui. Sau những ngày vất vả với ruộng vườn và chợ Tết, giây phút này mới thực sự là khoảnh khắc sum vầy, là khi lòng người chộn rộn niềm tin cho một năm mới nhiều niềm vui và hạnh phúc.

H.B