Nước cờ thế sự – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga

(Vanchuongphuongnam.vn) – Tiếng trống hội rền vang từ sớm, những lá cờ hội thêu chữ vàng trên nền lụa đỏ tung bay trên các dãy phố. Những hoa tươi, hoa giấy đủ màu được trang trí khắp nơi. Trong mắt thần dân, đó là cuộc hôn phối hoàn mỹ, gắn chặt hai họ Lý – Trần, củng cố nền móng cho vương triều mới dựng. Kiệu rước dâu sơn son thếp vàng lấp lánh, có rèm gấm đỏ, có những chuỗi ngọc bích, hồng ngọc và cả những chuỗi hạt bằng ngà voi tiện tròn rủ làm mành kiệu. Cỗ yến linh đình được bày suốt ba ngày trong cung. Có những đoàn rước vui nhộn đi từ hoàng thành ra phía ngoài kinh thành, tạo không khí hân hoan cho dân chúng.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

Thăng Long, tiết cuối đông năm Bính Ngọ.

Gió lạnh phương Bắc đã bớt đi phần buốt giá. Trên những bãi cỏ ven hồ, từng đợt mầm non ngượng ngùng nhú lên giữa lớp đất mềm còn đọng sương. Đào phai hé nụ, những cành liễu đầu thành lay nhẹ trong cơn gió ấm mang hơi ẩm dễ chịu. Không gian có thứ sắc xuân tươi mới, dịu dàng mà chưa hẳn rộn rã, như hơi thở phập phồng của một triều đại vừa sang trang.

Trong khu nội điện, nơi từng là hậu cung nhà Lý, một người đàn bà đứng lặng trước bồn hoa nhỏ đang lấm tấm những nụ màu hồng tươi tắn. Nàng mặc chiếc áo dài màu thiên thanh, tóc vấn cao, khuôn mặt vẫn giữ nét thanh tú của người đàn bà đẹp tuổi ngoài ba mươi, môi hồng thắm, mắt đen láy và sống mũi thẳng. Đó là Trần Thị Dung, người từng là nguyên phi Lý triều, người nâng khăn sửa túi cho đức vua Lý Sảm, tức vua Trần Huệ Tông, nay là phu nhân của Thái sư Trần Thủ Độ.

Trần Thị Dung có vẻ đẹp sắc sảo, thông minh, từng dọc ngang giữa sóng gió hậu cung. Là em họ của Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung được Trần Thủ Độ chắp mối tiến cung từ thuở mới mười lăm và trở thành nguyên phi của vua Lý Sảm, được vua sủng ái, yêu vì vừa do nhan sắc, vừa do sự thông minh, nhạy bén, lại luôn biết nhìn vẻ mặt hoàng thượng mà đoán ý để nói những lời vừa lòng, đẹp ý nhà vua. Chỉ hạ sinh hai hoàng nữ, nhưng địa vị của Trần Thị Dung không vì thế mà lung lay. Với những mưu mô của Trần Thủ Độ, dòng dõi nhà Trần ngày càng có uy lực trong cung. Khi đức vua Lý Sảm buộc thuận tình truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, khi công chúa Chiêu Thánh trở thành nhà vua Lý Chiêu Hoàng thì nguyên phi Trần Thị Dung thành Thái hậu, buông rèm nhiếp chính. Rồi khi Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, bao nhiêu quyền bính thực sự về tay thái sư Trần Thủ Độ. Trần Thị Dung trở thành phu nhân thái sư. Đã đi qua nhiều tháng ngày giông bão của cung đình, tận mắt chứng kiến và can dự vào những đổi thay nghiêng trời lệch đất, nhưng trong ánh mắt Trần Thị Dung giờ đây vẫn lộ ra một những nôn nóng, bồn chồn không yên. Những nôn nóng ấy dù cố giấu nhưng vẫn cứ gợn lên từng đợt như mặt hồ lăn tăn sóng dưới gió xuân. Dù quyền lực đã chuyển về họ Trần, dù chính nàng cũng đã an vị bên cạnh con người  có thực quyền nhất kinh thành, thực quyền hơn cả đức vua, nhưng trong lòng nàng vẫn còn những điều chưa nguôi. Nàng muốn nói với Trần Thủ Độ rất nhiều lần, nhưng cứ nhìn nét mặt của thái sư phu quân, nàng lại dằn lòng im  lặng. Bởi vì nàng biết, thái sư đang dồn tâm trí cho những việc đại sự hơn nhiều. Vua Trần Cảnh còn là một đứa trẻ. Triều đình chưa hết rối ren. Dẫu Chiêu Thánh nhường ngôi cho chồng là đúng với đạo tòng phu, nhưng vẫn còn đây đó điều ong tiếng ve về chuyện tiếm ngôi. Những ấm ức ngầm trong lòng những quan quân trung thành với vua Lý Sảm vẫn âm ỉ như than hồng giấu sau lớp tro tàn. Phía Bắc, biên giới còn đang nhiều mối đe dọa rập rình. Dân tình đói khổ, giặc cỏ còn nổi lên ở nhiều nơi… Chưa đêm nào đèn trong thư phòng của Thái sư tắt trước canh tư…

Tiếng bước chân thong thả vang lên từ phía sau. Trần Thủ Độ xuất hiện trong bộ áo vải thường nâu nhạt. Ông vốn chẳng cầu hình thức, dáng người rắn chắc, ánh mắt sâu và sắc như thể thấu suốt người đối diện chỉ bằng một lần nhìn. Nhiều lần phu nhân Trần Thị Dung ngỏ ý xin phu quân đổi thay cách phục sức. Nàng nói: thân là chức quan to trong triều, muôn người kính phục, nể vì, nhưng thái sư không để tâm đến trang phục. Lụa là gấm vóc, bạc vàng châu báu thiếu gì, nhưng tại sao phu quân toàn mặc áo vải thô. Trần Thủ Độ chỉ khẽ cười: ta không phải con công mà cần sặc sỡ. Phu nhân phải hiểu ta chứ. Tấm áo không làm nên uy lực của một con người. Ta không vì những thứ phù phiếm bên ngoài. Thứ ta cần, nó lớn lao hơn nhiều! Cũng có lần, Trần Thị Dung lựa lời hỏi: sao phu quân không ngồi ngai vua mà để cho Trần Cảnh? Với trí lực của phu quân, thu xếp việc đó không khó khăn gì. Thái sư Trần Thủ Độ lắc đầu: phu nhân không hiểu hết đâu. Ngai vua cũng chỉ như cái áo. Ai ngồi đó không quan trọng. Quan trọng đó là người của dòng dõi họ Trần. Ai ngồi lên ngai vua mà không phải đổ máu, mà muôn người đều chấp thuận như một lẽ tự nhiên, ấy là điều nên làm nhất. Ta không vì phú quý một thân ta…

— Phu nhân lại ra đây sớm thế? Giọng thái sư trầm thấp, không vồn vã, nhưng cũng chẳng lạnh lẽo.

Trần Thị Dung quay lại, nở một nụ cười nhẹ, nhưng trong đáy mắt thấp thoáng vẻ bất an.

– Xuân sắp về rồi. Bao năm nay trong cung, chưa năm nào thiếp thấy tiết xuân có phần thanh thản như năm nay.

– Phải! Sau nhiều biến động, thiên hạ cần yên bình.Trần Thủ Độ đáp lời. Mắt thái sư lướt qua những cành non rung rinh trong gió. Cái lớn đã định rồi, nhưng vẫn còn bao công việc ngổn ngang phải liệu nốt. Việc lớn xong rồi, việc nhỏ cũng cần làm ngay…

Lời ông nói không cao giọng, nhưng lại khiến Trần Thị Dung khẽ cau mày. Cái “việc nhỏ” mà ông nhắc đến, nàng hiểu rõ. Nàng đã chờ câu chuyện ấy từ lâu. Có điều, nàng không muốn mình là người nói ra đầu tiên. Và cũng chưa có cơ hội để đề cập đến.

Trần Thị Dung hạ giọng, cố giữ vẻ mềm mỏng:

– Thiếp đã dọn dẹp hậu cung cho Thái sư. Những kẻ cũ không còn, những người khả nghi đều đã bị điều đi. Nhưng… còn đứa trẻ đó…

Giọng nàng kéo dài ở cuối câu, không còn sự điềm tĩnh, mềm mỏng cố giữ nữa mà như giọt nước nhỏ xuống mặt gương phẳng, vỡ ra muôn ngàn tia nhỏ.

— Đứa bé ấy, giọt máu còn lại của họ Lý, con cung nhân họ Trịnh. Thiếp đã vì Thái sư mà ép cung nhân họ Trịnh đi theo thượng hoàng Lý Sảm  rồi, cớ gì còn để nó tồn tại?

Trần Thủ Độ im lặng một lát, ánh mắt hơi nheo lại. Rồi ông cười nhạt: Nàng vì ta à? Ta thì liên quan gì đến cung nhân họ Trịnh? Nàng vì ta hay vì sự ghen tuông trong chính nàng? Hậu cung có muôn vàn cung nhân, nhưng chỉ một cung nhân họ Trịnh sinh được hoàng nam cho Lý Sảm. Cũng là cung nhân mà Lý Sảm yêu dấu nhất… Nàng, dẫu ở ngôi cao, cũng vẫn chỉ là một người đàn bà…

Phu nhân Trần Thị Dung bặm môi, quay đi, nước mắt đã muốn tràn mi: “Thiếp biết ngay là phu quân sẽ mỉa mai thiếp đủ điều… Nhưng, cứ cho là thói thường ghen tuông đàn bà, phu quân giúp thiếp cho thằng bé không còn tồn tại nữa. Có thế thiếp mới thôi lo sợ, bất an trong lòng..” Trần Thủ Độ vuốt tóc phu nhân, nhưng vẻ mặt không thay đổi, giọng nói cũng không thay đổi: “ Nó là đứa bé chưa đầy ba tuổi. Một đứa trẻ không biết gì. Phu nhân sợ điều gì ở nó?

“Sợ ư? Không hẳn là thiếp sợ. Nhưng thiếp không muốn giữ lại vết tích của mối nhục trong hậu cung cũ. Khi tiên đế còn sống, người đã quá sủng ái ả cung nhân ấy, khiến thiếp bị lu mờ bao năm. Nguyên chuyện Lý Sảm nhất định không lập hoàng hậu cho thiếp, chắc chắn cũng vì cung nhân họ Trịnh. Nay cả tiên đế, cả cung nhân họ Trịnh chết rồi, thiếp không muốn nhìn thấy kết quả duy nhất còn sót lại của mối sủng ái ấy cứ hiển hiện trước mắt. Với lại, đứa bé là máu thịt của Lý Sảm. Biết đâu sau này…”

Nói đến đây, mặt Trần Thị Dung ửng đỏ, mắt long lên. Lời lẽ nàng không còn giữ được sự điềm tĩnh thường thấy ở cung đình.

Trần Thủ Độ khẽ thở ra. Trong thâm tâm, ông hiểu hết. Với phụ nữ, ghen tuông là thứ khó cắt bỏ hơn cả quyền lực, hơn cả vương triều. Nhưng ông, từ lâu, đã nhìn vượt lên tất cả những điều nhỏ nhen đó. Ông biết những gì đang giày vò Trần Thị Dung. Không phải những lo lắng lớn lao. Chỉ là lửa ghen tuông chưa dập được. Không phải ông không nghĩ đến đứa trẻ, ngay từ khi ông buộc Lý Sảm sang tu tại chùa Chân Giáo. Không phải ông không lúc nào lo lắng về chuyện đứa trẻ lớn lên sẽ là mối họa với triều Trần ông dày công từng bước gây dựng. Thế nhưng cuộc gặp gỡ giữa Trần Thủ Độ với Tống Trung, thái phó của vua Lý Sảm, người đã tình nguyện xin theo Lý Sảm sang nương náu chùa Chân Giáo ngay sau đêm Lý Sảm tự xử trong chùa bằng dải lụa vàng đã làm Trần Thủ Độ nghĩ lại. Tống Trung dập đầu thuật lại chi tiết cuộc đối thoại với Lý Sảm trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Lý Sảm. Mong ước của nguyên hoàng đế lúc đó chỉ là cho thằng bé được sống ở trên đời, sống thật xa hoàng cung, sống như một người dân bình thường, cực khổ cũng được, đói nghèo cũng được, nhưng xin cho nó được sống làm người. Bởi thế, Tống Trung từ bỏ ý định tuẫn tiết theo Lý Sảm, để còn thực hiện ký thác của người. Tống Trung biết mọi hành vi của ông không qua nổi con mắt của Trần Thủ Độ, nên cách khôn ngoan nhất là ông về xin gặp Trần Thủ Độ ngay. Sự sống chết của ông và đứa trẻ đều xin phó thác tay Trần Thủ Độ định đoạt.

Trần Thủ Độ đã suy nghĩ rất lâu. Rồi ông gật đầu, thuận cho Tống Trung mang đứa bé, vốn vẫn được canh giữ rất cẩn mật bởi tay chân thân tín của ông, đi thật xa, với cam kết sẽ cho thằng bé một lý lịch là con rơi nhặt ở bên đường. Tống Trung đủ khôn ngoan để hiểu, dẫu mình có đi đến đâu thì vẫn trong tầm theo dõi của Trần Thủ Độ. Vả lại, ông cũng không có ý định làm trái lời di nguyện của vua Lý Sảm – tức thiền sư Huệ Quang.

– Phu nhân ạ, đại sự đã thành. Cây đã bén rễ. Lửa nhỏ chẳng thể đốt được rừng già. Chúng ta đã dứt nhà Lý mà không vấy máu thiên hạ. Nay giết thêm một đứa trẻ miệng còn hơi sữa, há chẳng phải tự bẩn tay mình?

– Nhưng nếu sau này…

– Sau này? Trần Thủ Độ cắt ngang, ánh mắt ông ánh lên vẻ bình thản lạnh lẽo. Phu nhân không cần phải lo. Mọi chuyện ta đã liệu cả rồi. Phu nhân quên chuyện này đi được rồi. Giờ là lúc phu nhân không cần phải can dự vào những việc triều chính như trước nữa.

Trần Thị Dung mím môi, ánh mắt nàng cho thấy nàng chưa chịu cam lòng. Nàng vẫn tin rằng người đàn ông trước mặt, kẻ đã dám ép tiên đế tự sát, đã dám vươn tay kết thúc một triều đại ngót hai trăm năm hẳn cũng sẵn sàng ra tay với một đứa bé nói còn chưa sõi. Nhưng nàng đã nhầm. Trần Thủ Độ không hề tàn sát vô lối. Trong bàn tay thép của ông, mọi nhát chém đều được tính toán sao cho vừa đủ. Và nước mắt hay những lời năn nỉ của phu nhân đối với ông đều không có nghĩa. Ông không dễ mềm lòng, không dễ bị lay chuyển. Nàng vớt vát:

– Thiếp tưởng Thái sư luôn muốn truy cùng diệt tận…

Trần Thủ Độ chậm rãi lắc đầu:

– Truy cùng diệt tận là cách làm của kẻ yếu bóng vía. Ta dựng nên cơ nghiệp này, và sau này là giữ vững được cơ nghiệp này không phải nhờ giết người nhiều, mà nhờ giết người vừa đủ.

Nói rồi, ông quay bước, ánh mắt dõi xa về nơi bầu trời xuân hửng sáng sau những tầng mây mỏng. Phu nhân Trần Thị Dung mín môi, vô cớ bứt những nụ hoa đang nhú, xé nát trong tay.

Buổi sáng Thăng Long mưa xuân lất phất như tơ vương. Những giọt nước nhỏ li ti như bụi ngọc phủ lên những tán cây trong vườn ngự uyển khiến búp non long lanh. Không khí ẩm mềm và trong trẻo như hơi thở của một thiếu nữ đang độ xuân thì.

Trong gian thư phòng rộng nhưng giản dị, Trần Thủ Độ ngồi bên án thư, đôi mắt sắc lạnh đang xem xét những bản tấu trình của triều đình. Ánh sáng từ khuôn cửa sổ hắt vào, viền những đường nét trên khuôn mặt cương nghị, như tạc từ đá.

Tiếng hài gấm khẽ chạm trên nền gạch. Trần Thị Dung bước vào, dáng ngọc khoan thai như hoa đưa trước gió, song ánh mắt nàng ẩn chứa cơn sóng ngầm chưa lắng xuống từ cuộc đối thoại hôm trước.

– Thái sư… thiếp vẫn nghĩ ngợi nhiều về chuyện đứa bé, con cung nhân họ Trịnh… Thiếp không thể nào ngủ nổi, đã mấy đêm rồi… Nàng cất lời, giọng cố giữ vẻ dịu dàng, nhưng khó giấu nỗi bức bối trong lòng.

Trần Thủ Độ vẫn chăm chú vào tờ tấu trên bàn, thản nhiên đáp:

– Phu nhân không có chuyện gì khác thì lui. Ta đang bận! Lần sau, chớ có vào nơi này khi ta chưa cho gọi

– Nó là mầm họ Lý. Để nó sống, e sau này…

Lần này, Trần Thủ Độ ngẩng lên, ánh mắt sắc như dao cắt thẳng vào nàng. Ông ngắt lời, giọng dứt khoát, lạnh lùng:

– Phu nhân, ta đã nói rồi. Đại sự đã xong. Phu nhân không cần phải bận tâm

Thấy lời mình không có hiệu quả, Trần Thị Dung hạ giọng, cố dùng chút mềm mỏng cuối cùng của một người đàn bà:

– Nhưng thiếp… thiếp không cam lòng. Bao năm trong hậu cung, thiếp đã phải chịu đựng bao cay đắng bởi sự sủng ái tiên đế dành cho ả cung nhân họ Trịnh. Nay ả đã chết, chẳng lẽ vẫn còn phải để máu mủ của ả lẩn khuất đâu đó dưới trời này?

Trần Thủ Độ bật cười nhạt. Ông từ từ đặt bút xuống, nhìn thẳng vào người đàn bà trước mặt:

– Khi nàng còn là nguyên phi của Lý Sảm, nàng có thể can thiệp triều đình, mưu sự cung cấm, tranh quyền hậu điện. Nhưng nay nàng là phu nhân của ta thì nàng chỉ là phu nhân thôi. Mọi việc đã có tay ta sắp đặt, không cần nàng phải bận lòng. Ta khác Lý Sảm.

Giọng ông không cao, nhưng cứng rắn, lạnh như mặt nước hồ mùa đông chưa kịp tan băng.

Sắc mặt Trần Thị Dung đỏ bừng. Cơn giận làm lồng ngực nàng phập phồng.

– Nếu Thái sư đã không cần thiếp can dự, vậy để thiếp tự chọn đường. Nếu đứa bé còn sống, chi bằng thiếp chết còn hơn!

Nói đoạn, nàng dợm bước quay đi, giọng run lên vì tức giận.

Trần Thủ Độ vẫn ngồi yên, mắt không chớp, cười nhạt:

– Nếu đó là ý muốn thực lòng của nàng, ta không cản. Mạng mỗi người mỗi kẻ đều tự nắm lấy. Nhưng nhớ, việc đại sự của thiên hạ không vì một sinh mạng mà đổi dời.

Câu nói vừa dứt, không gian như đông cứng lại. Trần Thị Dung khựng lại. Nàng hiểu: trước mặt nàng là kẻ mà ngay cả vua Lý Sảm và cả triều đình, cả thiên hạ còn phải khuất phục, còn các đại thần triều Trần đều phải răm rắp nghe theo. Nàng càng cố tìm cách lay động, càng lộ ra sự yếu thế của mình.

Trần Thị Dung lặng lẽ quay đầu bước ra khỏi thư phòng, bàn tay nắm chặt vạt áo mà lòng ấm ức trào lên như sóng ngầm.

Tiết xuân tiếp tục rõ dần. Những đợt mưa phùn vẫn rắc nhẹ qua các con ngõ hẹp của Thăng Long, phủ lên những mái ngói cổ kính một lớp màu ẩm mốc, mềm mại như rêu non. Dưới chân thành, những người thợ hồ lặng lẽ tu bổ các bức tường đá, còn trên cung điện, quyền lực nhà Trần đang lặng lẽ đâm rễ sau lớp đất tơi xốp của biến động chính trị. Khí lạnh đã dần lui. Trong gió xuân đã nhiều hơi ấm. Sắc hoa và những búp non làm cả kinh thành rạng ngời trong sức sống mới.

Trong thư phòng phía đông nội phủ, Trần Thủ Độ đã ngồi sẵn bên án thư. Hôm nay, ông cho vời Trần Liễu đến. Trần Liễu là con trai trưởng của Trần Thừa, là anh ruột của Trần Cảnh, còn Trần Thừa là anh họ của Trần Thủ Độ. Nếu gia phả được vẽ  như một cành cây, thì thân cây chính là cụ nội của Trần Thủ Độ. Hai cành cây là hai anh em ruột: Trần Lý và Trần Hấp. Trần Lý là cha của Trần Thừa, còn Trần Hấp là cha Trần Thủ Độ. Mối quan hệ máu thịt nội tộc khiến Trần Thủ Độ coi anh em Trần Liễu, Trần Cảnh như con ruột của mình. Mải  mê với nghiệp lớn, ông có phu nhân, có cả các thứ thất, nhưng chưa có con…

Tiếng cửa gỗ nhẹ mở. Trần Liễu bước vào, áo chầu lụa màu  vàng nhạt thêu cành trúc, dáng đi có phần chậm rãi, ánh mắt ẩn chứa một thứ tâm tư chưa nói thành lời. So với em trai Trần Cảnh, Trần Liễu tỏ ra cứng cáp hơn, đường nét sắc sảo hơn, nhưng thần thái lại thiếu sự điềm đạm.

– Ngồi đi.

Trần Thủ Độ phất tay, mắt không rời khỏi bức địa đồ Đại Việt đang trải trên mặt án. Trần Liễu chậm rãi ngồi xuống, chắp tay trước ngực, giữ lễ.

Sau một thoáng im lặng, Trần Thủ Độ mở lời, giọng đều đặn:

– Nhà Trần đã dựng cơ nghiệp. Triều đình đang cần củng cố thêm các mối ràng buộc máu mủ để vững vàng trong ngoài. Ta đã sắp đặt: ngươi sẽ kết hôn với công chúa Thuận Thiên.

Trần Liễu ngẩng đầu, ánh mắt lóe lên tia bất ngờ. Dường như Trần Liễu thoáng bàng hoàng bởi sự sắp đặt này.  Lát sau, Trần Liễu chậm rãi nói, cố giữ sự kính cẩn:

– Thái sư đã định vậy, thần chẳng dám cãi. Nhưng xin thái sư cho thần được bộc bạch. Thần đã trộm nghĩ từ lâu… tại sao là Trần Cảnh được chọn làm vua, mà không phải thần? Thần vốn là trưởng tử của cha Trần Thừa, lớn hơn Trần Cảnh đến gần bảy tuổi. Còn công chúa Thuận Thiên, chị ruột của Chiêu Thánh,  chẳng phải xét theo thứ bậc xưa nay trong cung cũng phải được chọn kế vị?

Lời hắn nói ra, tuy mềm nhưng sắc như kim. Đằng sau vẻ nhún nhường là ngọn lửa âm ỉ chứa đựng mầm đố kỵ, so sánh.

Trần Thủ Độ không có vẻ gì ngạc nhiên. Tính nết từng đứa cháu, ông đã rõ từ khi chúng mới được sinh ra. Tại sao đưa Trần Cảnh vào cung để kết hôn với Chiêu Thánh chứ không phải Trần Liễu là việc ông tính toán từ lâu. Trần Cảnh cũng chỉ là một đứa trẻ như Chiêu Thánh. Chuyện hôn sự cũng chỉ như một trò chơi con trẻ vui vẻ. Ngai vàng cũng chỉ như một thứ đồ chơi. Bảo ngồi thì ngồi, bảo xuống thì xuống. Trần Cảnh tính nhu mì, ôn hòa, không tranh hơn, giành giật, chỉ ham vui. Trần Liễu đã trưởng thành, lại ham danh vọng, luôn tính toán hơn thua. Ngai vàng vào tay Trần Liễu, việc người khác có thể can thiệp là khó khăn, dẫu cho người khác ở đây là Trần Thủ Độ, chú của Trần Liễu, và cũng là người không có ý đồ ngồi ở ngai vua. Nếu có ý đồ ấy, ông đã không bày nước cờ Lý Sảm truyền ngôi cho Chiêu Thánh. Vả lại, người tính cương và nôn nóng như Trần Liễu, khó mưu việc lớn.

Nghe Trần Liễu hậm hực, Trần Thủ Độ khẽ cười, mắt vẫn bình thản như thể đã đoán trước mọi câu hỏi từ lâu:

– Ta biết trong lòng ngươi có điều ấy từ lâu. Nhưng chính vì thế mới cần ngươi phải hiểu: trị quốc không chỉ là việc của tuổi tác hay huyết hệ. Mọi việc trên đời phải thuận thế.

Ông dừng lại, giọng dần chậm rãi hơn, nhưng sắc lạnh hơn:

– Trần Cảnh còn nhỏ, dễ uốn, dễ điều. Dựng lên ngôi đúng thời điểm Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, có chính danh, thiên hạ yên lòng. Người lớn như ngươi, nếu lên ngôi khi ấy, kẻ trong kẻ ngoài e ngại, e dị nghị. Cái tiếng chiếm ngôi sẽ khiến ngai vàng lung lay ngay từ lúc đăng cơ. Còn Thuận Thiên? Thuận Thiên mà lên ngôi, chắc gì người được chọn để xe tơ kết tóc là ngươi? Thuận Thiên đến tuổi cập kê, có tình ý, có chính kiến, lại thông tuệ sắc sảo… Quan quân trong triều không hiếm kẻ ngấp nghé. Màn kịch té nước nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng do ta dựng là vì ý đó. Thiên hạ cần ý trời trong lúc bốn phương đều nhốn nháo thế này. Nếu không vì ngươi là máu thịt, ta đã không nói lời gan ruột thế này. Ta muốn ngươi phải thông, thì việc lớn mới thành.

Trần Thủ Độ nhìn thẳng vào mắt Trần Liễu, giọng tiếp tục sắc như dao:

– Nếu vì tham vọng, ngươi sẽ làm vỡ bàn cờ. Như thế, việc gì xảy ra với ngươi, với cả dòng tộc Trần, với cả triều đình này thì ngươi cũng rõ. Nhưng nếu biết giữ phận, ngươi sẽ có cả vương vị trong triều, có phu thê hiển quý, có đất phong rộng lớn, con cháu ngươi sau này sẽ có vị trí hiển hách bậc nhất trong triều đình. Ngươi chọn đi: làm cây trong rừng lớn, hay làm ngọn cỏ đơn lẻ chờ lụi tàn?

Trần Liễu mím chặt môi, đi từ bàng hoàng này sang bàng hoàng khác. Trong đôi mắt Trần Liễu, sự ấm ức ban đầu dần lắng lại. Những ý nghĩ lướt rất nhanh trong óc. Mỗi lời của Trần Thủ Độ là một vệt sáng rọi vào đầu óc vẫn còn lẩn khuất bóng tối của Trần Liễu. Trần Thủ Độ tiếp lời:

– Kẻ tiểu nhân thì thường nghĩ nhỏ, ham những thứ ngay trước mắt. Muốn dựng cơ đồ, làm vẻ vang dòng tộc thì không thể làm kẻ tiểu nhân!

Trần Liễu cúi đầu thật thấp:

– Thần hiểu rồi ạ! Thần xin tuân mệnh.

Trần Thủ Độ khẽ gật đầu. Trong sâu thẳm, ông biết ngọn lửa trong Trần Liễu chưa tắt, nhưng ông không quá bận tâm thêm nữa. Miễn là ngọn lửa ấy chưa bùng cháy lúc này. Quyền lực, như ông vẫn nghĩ, không phải là việc diệt hết mầm loạn trong một lần. Quyền lực là biết cắt tỉa vừa đủ để cây tiếp tục lớn mà không bật rễ.

Gió xuân đã trở nên ấm hơn, những cây đào bên hồ Tả Vọng lấm tấm những đốm hoa hồng thắm. Thăng Long vào tiết đại hỉ, khắp nơi người ta rộn rã bàn chuyện hôn sự kết duyên giữa Hoài Vương Trần Liễu và công chúa Thuận Thiên, chị ruột của hoàng hậu.

Tiếng trống hội rền vang từ sớm, những lá cờ hội thêu chữ vàng trên nền lụa đỏ tung bay trên các dãy phố. Những hoa tươi, hoa giấy đủ màu được trang trí khắp nơi. Trong mắt thần dân, đó là cuộc hôn phối hoàn mỹ, gắn chặt hai họ Lý – Trần, củng cố nền móng cho vương triều mới dựng. Kiệu rước dâu sơn son thếp vàng lấp lánh, có rèm gấm đỏ, có những chuỗi ngọc bích, hồng ngọc và cả những chuỗi hạt bằng ngà voi tiện tròn rủ làm mành kiệu. Cỗ yến linh đình được bày suốt ba ngày trong cung. Có những đoàn rước vui nhộn đi từ hoàng thành ra phía ngoài kinh thành, tạo không khí hân hoan cho dân chúng.

Nhưng trong nội cung, đằng sau những chiếc rèm gấm thêu rực rỡ, có những cặp mắt u hoài dõi theo đoàn rước.

Trần Thị Dung đứng khuất sau lớp màn mỏng, ánh mắt thẫn thờ nhìn dòng người diễu hành. Đôi môi nàng mím lại. Cuộc hôn nhân này cũng là một phần toan tính nữa của Trần Thủ Độ, người mà nàng đã không đủ sức lay chuyển. Bao năm vật vã trong cung cấm, nàng hiểu rõ: đàn bà trong chốn quyền lực, nếu không phải là con cờ thì cũng chỉ là món trang sức. Nàng nhớ lại đám cưới khi xưa của mình với đức vua Lý Huệ Tông. Mới đó mà đã bao năm. Nàng đã là người đàn bà trải hai đời chồng. Ngày  được bước lên kiệu hoa, nàng đã ngỡ cuộc sống từ nay chỉ toàn hạnh phúc trong gấm vóc, ngọc vàng. Ngờ đâu thế sự xoay vần. Phận đàn bà, có giữa lầu son gác tía đi chăng nữa, cũng vẫn chỉ như cánh bèo trôi nổi. Như Chiêu Thánh, bảo lên ngồi ngai vua thì lên, bảo nhường ngôi cho kẻ khác thì nhường. Bảo kết hôn với Trần Cảnh thì kết hôn. Giờ đến  Thuận Thiên cũng lên kiệu hoa, về nhà Trần Liễu. Không phải vì thuận tình đẹp ý cùng nhau, mà Thuận Thiên cũng là một con cờ trong bàn cờ rắc rối của Trần Thủ Độ. Nước cờ này, liệu Thuận Thiên có được cuộc đời êm ả? Êm ả làm sao khi Trần Liễu cũng đầy tham vọng bá vương? Tự nhiên nước mắt Trần Thị Dung ứa ra…

Ở phía xa, Trần Thủ Độ cũng đứng lặng lẽ dưới mái hiên. Ông không tham dự đoàn rước, không cần phải phô trương, cũng không cần phải ra mặt trong mọi chuyện. Nhưng tất cả mọi sự kiện này đều do một tay ông định liệu. Mắt ông dõi theo đám rước đang nhộn nhịp đi về phía cổng thành, thần sắc bình thản như chính bàn cờ mà ông vừa đi thêm một nước. Nước cờ này ông đã sắp sẵn từ lâu. Dân chúng trong thành đang hoan hỉ. Hoan hỉ vì nhân đám cưới hoàng gia, mỗi hộ dân đều được vua ban tiền gạo. Ở mỗi cổng thành đều có các trò vui cho nhân dân tham gia, còn đám rước hoàng gia thì tưng bừng đi khắp trong thành… Trong không khí đó, không ai còn nghĩ đến chuyện gì bất thường từ đám cưới giữa hai con người vốn có mối quan hệ huyết thống rất gần: Tiết độ sứ Trần Tự Khánh – cha Trần Liễu- là anh ruột của thái sư phu nhân Trần Thị Dung – mẹ của Thuận Thiên công chúa.

Trần Liễu ngồi trong kiệu hoa đón dâu rước về phủ, vẻ mặt trầm mặc khác thường. Bên cạnh là công chúa Thuận Thiên, dung mạo đoan trang, yên lặng. Trong lòng Trần Liễu vẫn ngổn ngang trăm mối. Những lời của thái sư Trần Thủ Độ vẫn vang vọng trong đầu: nếu biết giữ phận, ngươi sẽ có vương vị trong triều, có phu thê hiển quý, có đất phong rộng lớn…. Ngươi chọn làm cây trong rừng lớn hay chọn làm ngọn cỏ… Hôn lễ hôm nay là sự toan tính, sắp đặt khôn ngoan của thái sư, là sợi dây buộc chặt thêm sự phụ thuộc của nhà Lý vào nhà Trần, để loại trừ tất cả mọi mầm phản kháng thường có của triều vua trước còn sót lại đối với triều đại sau… Nhưng khi liếc nhìn sang bên cạnh, qua tấm mạng che mặt bằng sa mỏng, thấy dung nhan yêu kiều của Thuận Thiên công chúa, lòng Trần Liễu dịu lại. Thuận Thiên vốn là một trang quốc sắc thiên hương, có được nàng dẫu bằng cách nào đi nữa cũng là thỏa nguyện. Ta không nên vì những điều còn lấn cấn trong lòng mà làm hỏng ngày đại hỷ, đêm tân hôn. Nghĩ thế, Trần Liễu tươi nét mặt, nở nụ cười rạng rỡ.

Cũng trong thời gian đó, ở một nếp nhà lợp cỏ tranh nơi chân núi ở vùng cao hẻo lánh, một ông già sống cùng đứa trẻ chừng bốn tuổi. Ban ngày ông cuốc đất, gieo trồng, ban đêm thắp đèn đọc sách. Đứa trẻ ngây thơ đòi ông dạy viết chữ, viết tên. Ông lấy than củi vạch lên nền nhà mấy nét. Đứa trẻ ríu rít hỏi: chữ gì đây ông? Chữ gì mà đẹp thế hả ông? Ông già giấu tiếng thở dài, đáp: Chữ Dân. Là tên của cháu đấy! Cháu nói đúng, chữ Dân là chữ đẹp! Đứa trẻ lại ngây thơ hỏi: tên cháu là Dân, vậy họ của cháu là gì? Ông viết cả họ của cháu đi. Ông già tiếp tục vạch lên đất thêm vài nét nữa: đây này, cháu họ Lương, tên Dân. Tên đầy đủ mà ta đặt cho cháu là Lương Dân. Đó là cái tên đẹp nhất, cháu hiểu không?

Ông già đó chính là Tống Trung. Còn đứa trẻ là con cung nhân họ Trịnh.

N.T.V.N