Phơi sách mùa lũ – Tản văn của Lê Văn Huân

289

(Vanchuongphuongnam.vn) – Lũ vừa dứt, trời hảnh nắng. Một thoáng ngang qua ngôi nhà của thầy giáo tôi thấy cả một sân sách. Một cơ ngơi sách nằm ngổn ngang phơi dưới nắng vàng. “Thiên hạ phơi lúa, thầy phơi sách”. Lòng tôi lại nhớ những ngày ông tôi phơi sách sau lũ.

Tác giả Lê Văn Huân 

Tháng 9 năm ấy, trời nổi mưa tầm tã như trút cơn giận và thể hiện quyền lực oai phong của mình để trừng phạt cõi nhân gian. Mưa kéo dài cả tuần, càng ngày nước càng dâng cao, lúc đầu vào sân, vào nhà rồi “bò” lên giường, lên mặt bàn… Chiếc bàn bồng bềnh nghiêng đảo làm đổ cả khay trà. Giường, phản, ghế… thi nhau nổi là là trên mặt nước. Lúa, gạo, khoai chạy đua với ngấn lũ, cuối cùng không còn chỗ cao hơn nên đành nằm lại với nước. Bà, mẹ cùng với cô út lúc đầu tập trung chăm lo cho các thứ ấy, với mấy con gà, con heo. Còn ông và chú tôi thì tập trung vào cứu nguy cho mấy tủ sách “gia bảo” của gia đình. Sách từ giá, từ kệ, từ trong chiếc tủ thờ lần lượt đi ra với chiếc bàn to giữa nhà nhưng khi nước dâng ông phải cùng chú rút mấy tấm phảng, kéo bắc ngang qua hai thanh trính của ngôi nhà để đưa sách lên nhưng vẫn không kịp… Cuối cùng sách cùng cũng chung số phận với lúa, gạo, sắn, khoai… tất cả đều ướt sũng.

Khi ông trời ngưng cơn thịnh nộ, cũng là lúc bà con trong làng tất bật đổ các thứ bị ướt ra phơi. Bà, mẹ cùng cô út lo hong phơi lúa, gạo để có cái ăn. Riêng ông hình như không quan tâm gì đến các thứ ấy. Gương mặt ông lúc nào cũng trầm ngâm có khi gần như thất thần sợ mất điều gì còn to hơn cả bạc vàng, ông nhường cái sân gạch để bà phơi lúa, còn mình ra vườn kê liếp, giấy nhựa để phơi sách. Sách hồi đó không như bây giờ, toàn là giấy mỏng, vàng ố, có cả một số sách bằng “giấy dó” với những dòng chữ Nho, trong đó có cả trích lục, phân thơ. May sao tập “Phú chí” nằm trong chiếc hộp son đỏ trên bàn thờ tổ tiên không bị nước vào. Vì giấy xấu nên tập nào tập nấy đều sũng ướt, cầm lên nước chảy ròng ròng. Ông tôi không nhờ ai giúp, ông sợ mạnh tay thì giấy sẽ mủn. Phơi được hai ngày, ông bảo tôi ra giúp ông đảo sách. Ông dặn chừng rằng tay phải nhè nhẹ lật giở từng trang, không được để rách tí nào. Đêm đến, ông căng bạt, che lều bằng những tấm ni lon và thắp cả đèn ở đó để canh. Tôi vừa giúp ông vừa lướt qua các truyện như Tây du ký, Tam Hạ Nam Đường, Phong Thần, Thủy hử, Đông Chu liệt quốc, Hán Sở tranh hùng… Còn đống sách thuốc đông y (ông tôi vốn là thầy thuốc đông y), phân thơ, trích lục, khoa học, thiên văn, địa chí, tử vi, tướng số…, tôi không màng đến vì hầu hết là chữ Nho, hơn nữa đọc cũng chẳng hiểu gì. Chi bằng đọc truyện xưa quá ư là hấp dẫn, nhất là các vị quân sư đấu trí với nhau, các ông tướng bày binh bố trận rồi là mấy cảnh ngựa hí, gươm khua dưới bóng tinh kỳ quân ta truy đuổi quân giặc… Có những lúc quá mê đọc, ông nhắc phải đi nghỉ kẻo mụ cả người.

Qua đợt này ông “phát hiện” tôi là một đứa mê sách. Từ đó, mỗi khi có dịp xuống phố huyện “cân thuốc Bắc” về bán, ông mua vài cuốn truyện để đêm đêm mỗi khi tôi xong bài vở ông bảo đọc cho ông nghe như: Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh – Xuân Nương, Thạch Sanh, Quan âm Thị Kính, Trần Minh khố chuối…Ông hướng dẫn cho tôi đọc các sách về đạo Nho viết về Mạnh tử, Nhan Hồi, Tử Lộ đọc xong ông hỏi “Cháu đọc có hiểu gì không?”. Có chỗ tôi hiểu, có chỗ tôi không. Chỗ nào không hiểu được ông giảng giải. Ông giảng cho tôi các câu “Nhân bất học, bất tri l‎í” , “Ấu bất học – lão hà vi”, “Ngọc bất trát bất thành khí”, “Nhân nghĩa như thiên kim, tiền tài như phấn thổ”. Ông căn dặn làm người nhất là làm trai là phải cho chí khí, cao thượng “làm trai cho đáng nên trai, xuống đông đông lặn lên đoài đoài tan”, ông mua truyện lịch sử cho tôi đọc mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ quyển sách ấy, dù bây giờ nó không còn. Vì sách ấy in hình các vị anh hùng dân tộc rất đẹp và vô cùng uy nghi hơn nữa cách trình bày của sách đọc rất là dễ nhớ. Khi viết về vị anh hùng nào họ ghi lên đầu bài một câu nói hoặc sự kiện nổi tiếng của vị anh hùng đó, như: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ), “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần truớc đã” (Hưng đạo vuơng Trần Quốc Tuấn), “Muời năm kháng chiến chông quân Minh” (Lê Lợi),  “Hy sinh vì đại Nghĩa” (Lê Lai), “ Phá cuờng địch báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản)…

Cứ thế mỗi đêm mỗi ít “Truyện của sách, lời của ông” dần dần chảy vào người tôi. Khi lớn lên, dần theo năm tháng tôi mới đọc được hết được những gì ông để lại. Đọc hết thôi, chứ hiểu và làm theo thì quãng đời đã qua và thời gian còn lại của đời người chưa hẳn làm được hết những điều “thiện thánh” mà sách ông để lại. Chỉ ngần ấy thôi, mà đã gần năm mươi năm trôi qua mà tôi vẫn còn nhớ mãi. Nhớ những đêm cùng ông đọc sách dưới ánh đèn dầu đỏ quạch, nhớ cùng ông đọc thơ, giảng Kiều… Nhớ những ngày cùng ông phơi sách trên nền bãi bồi phù sa sau lũ. Và tôi nghĩ sách cũng như phù sa luôn nẩy mầm xanh cho đời…

L.V.H