Xung phong – Truyện ngắn Bách Hợp

(Vanchuongphuongnam.vn) – Đêm ấy, sau nhiều đợt xung phong đẫm máu, chúng tôi chiếm được cây cầu. Địch phản kích quyết liệt. Trong chớp lửa từng đợt sóng rằn ri liều lĩnh tràn lên.

Ảnh minh họa. Nguồn internet

“Xung phong… xung phong…”

Tiếng hô bật ra giữa cánh đồng trống, khô khốc và lạc điệu.

Đàn vịt giật mình,chạy tán loạn. Nước bùn bắn lên. Cánh đập rối rít.

– Mẹ cái ông điên!

Tuấn quát, chân lội bì bõm qua ruộng. Chiếc gậy chăn vịt giơ cao. Người đàn ông trước mặt anh trạc ngoài bảy mươi, quần đùi, áo cộc, người lấm lem bùn đất, tay vác một cây gậy tre dài quá khổ. Nét mặt vô hồn – như không hề nhìn thấy cơn giận đang lao tới.

 -Tôi vụt cho ông một gậy bây giờ!

– Dừng lại!

Giọng quát vang lên từ bờ ruộng. Tuấn khựng tay. Ông Phú – người làng gọi ông là Phú “cựu binh” – đứng đó, lưng còng, mắt sâu, giọng không to nhưng đủ uy lực để cắt ngang.

Tuấn hạ gậy. Mồ hôi chảy dọc hai bên thái dương. Anh kéo người đàn ông kia lên bờ.

– Bác Phú, ông này phá cháu quá. Lùa vịt chạy hết cả.

 Ông Phú bỗng đứng thẳng, giơ tay chào theo điều lệnh cũ kỹ, giọng khàn nhưng rắn:

– Báo cáo đại đội trưởng! Địch chạy rồi! Ta giữ được trận địa! Đoàn xe tăng của ta đã qua cầu, tiến vào Dinh Độc Lập rồi! Hòa bình rồi!

Rồi ông bước tới, đặt tay lên vai người đàn  ông đang lấm lem bùn đất . Bàn tay run nhẹ.

– Về thôi, anh.

Ông Hùng lắc đầu. Cây gậy tre được siết chặt hơn.

– Không được chủ quan. Địch tạm lui là để phản kích. Phải cảnh giới.

Không ai trả lời. Câu nói rơi xuống cánh đồng chiều, nặng, như một viên đạn lép.

Hoàng hôn phủ lên mặt ruộng. Gốc rạ nhọn hoắt. Gió thốc mùi bùn, mùi nước tù – Mùi của chiến tranh  chưa kịp rửa sạch.

Đàn vịt cúi đầu mò thóc. Chúng bình thản. Vì chiến tranh là chuyện của loài người.

Ông Phú quay sang Tuấn.

– Mày có biết ông ấy là ai không?

– Dạ… cả làng gọi là ông Hùng điên.

– Thế mày có biết vì sao ông ấy điên không?

Tuấn im lặng. Giọng ông Phú trầm xuống

– Ông ấy đã ở lại cùng chiến tranh lâu hơn tất cả chúng ta.

Ông Phú ngồi xuống bờ ao, vốc nước rửa tay chân cho ông Hùng.

Mặt nước trong, phản chiếu hai khuôn mặt già nua: một trống rỗng, một chằng chịt những thứ không thể gọi tên.

– Ngày xưa, ông ấy là Trung úy, đại đội trưởng đơn vị đặc công của tôi.

Ông Phú nói chậm, như sợ ký ức sẽ vỡ ra nếu nói nhanh.

– Năm bảy lăm. Trận cuối cùng… ở cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ Sài Gòn.

Gió thổi mạnh hơn.

– Đơn vị nhận lệnh: bằng mọi giá phải đánh chiếm và giữ cho được cây cầu. Không giữ được cầu, xe tăng không vào được Sài Gòn. Không ai nói đến chữ “chết”, nhưng ai cũng hiểu…

Đêm ấy, sau nhiều đợt xung phong đẫm máu, chúng tôi chiếm được  cây cầu. Địch phản kích quyết liệt. Trong chớp lửa từng đợt sóng rằn ri liều lĩnh tràn lên.

Chỉ có vũ khí nhẹ, chúng tôi bò trên mặt cầu trơn trượt máu ngổn ngang xác người. Pháo 105 ly bắn tới dồn dập. Đại liên từ các ổ đề kháng, đạn từ các xe tăng phía nam cầu và từ giang thuyền địch xả lên cầu dày đặc.

Mặt cầu rung lên. Khói, lửa, tiếng kim loại va vào nhau chan chát.

Anh Hùng khom mình lao lên trước. Hô xung phong. Không phải để thể hiện, mà để những người phía sau còn đứng vững.

Anh quát to:

– Anh em ơi! Chết thì chết, cũng không được tháo lui! Đại quân ta từ Biên Hòa sắp tới rồi!

Ông Phú dừng lại, đưa tay lên trán.

– Khi bị thương, anh ấy vẫn không lui xuống. Một mảnh đạn găm vào đầu. Máu chảy xuống cổ áo. Pháo nổ gần, hất anh ấy văng đi. Chúng tôi tưởng anh chết rồi.

Ông Phú thở ra, rất dài.

– Nhưng anh ấy bò dậy. Dựa vào lan can cầu. Như một chốt giữ. Giữ bằng chính thân mình. Bằng chính hình ảnh của mình trong mắt những người lính của anh.

Mờ sáng hôm sau – ngày 30 tháng 4 – đoàn xe tăng ta qua cầu, tiến vào Sài Gòn.

Anh Hùng được tìm thấy trong tình trạng thoi thóp. Bộ quân phục nhuộm máu.

Anh còn sống, mảnh đạn pháo vẫn găm trong đầu.

– Nhưng có lẽ…mảnh đạn cũng găm tâm trí anh mãi mãi không bao giờ rời khỏi cây cầu đó.

Tuấn cúi đầu. Anh nhìn cây gậy tre trên tay ông Hùng. Một vật vô hại. Nhưng với ông, đó là súng. Là mệnh lệnh. Là ký ức chưa chịu rời đi.

Cháu xin lỗi…

Ông Phú gật đầu.

– Xin lỗi là được. Nhớ thì khó hơn.

Tiếng gọi hớt hải vang lên từ xa:

– Anh ơi!

Bà Tuyết chạy tới, tay cầm cái nón, thở dốc. Bà nắm chặt tay anh trai.

– Em quay ra có tí mà anh lại đi mất rồi.

Bà nhìn cây gậy tre, nhìn bùn đất bám đầy người anh, không trách, chỉ thở dài.

– Về thôi anh.

Ông Hùng quay lại, nhìn cánh đồng, giơ tay chào lần nữa.

– Chuẩn bị tư trang. Chờ lệnh.

Rồi ông đi. Cây gậy vẫn trên vai.

Hai anh em khuất dần trên con đê gió thổi. Hai mái đầu bạc nghiêng về phía nhau. Nhỏ bé. Chậm chạp.

Cánh đồng trở lại yên lặng.

Đàn vịt cúi đầu mò thóc

Con đê trống dần.

Gió thổi qua những gốc rạ sắc như lưỡi dao cùn.

Tuấn đứng lại rất lâu. Anh nhìn theo bóng hai con người vừa khuất, rồi cúi xuống nhặt chiếc lông vịt rơi trên bờ ruộng. Chiếc lông nhẹ bẫng, trắng và sạch, không vương một giọt bùn.

Anh chợt nghĩ: nếu khi nãy gậy của anh quật xuống, có lẽ cũng nhẹ như thế.

Nhưng chiến tranh thì không hề nhẹ.

Chiều muộn, cánh đồng yên ắng đến mức nghe rõ tiếng côn trùng trong cỏ. Không tiếng súng. Không pháo nổ. Không xác người. Chỉ còn hình bóng một người lính già, mang theo một trận đánh mà không ai khác nhìn thấy.

Vĩ Thanh:

Ở đâu đó, một cây cầu vẫn nằm im giữa thành phố đã đổi tên. Xe cộ ngày ngày chạy qua. Không ai dừng lại. Không ai hỏi đất dưới chân cầu ấy đã từng thấm bao nhiêu máu.

Tuấn quay về, mở cổng, lùa đàn vịt vào chuồng. Công việc quen thuộc, đơn giản. Anh rửa tay rất kỹ, nhưng mùi bùn vẫn còn – mùi của chiến tranh còn chưa rửa sạch

Đêm xuống.

Ngoài đồng, gió nổi lên. Trong bóng tối, tiếng hô “xung phong” dường như vẫn treo lơ lửng đâu đó  không to, không rõ, không dứt.

Chiến tranh đã kết thúc.

Nhưng nó vẫn  đặt một một dấu lặng trải suốt chiều dài lịch sử..

B.H